Giới Thiệu Đức Mẹ Mễ Du – Phần 7

ĐỨC MẸ MUỐN CHÚNG TA LÀM GÌ ?

Vâng lời Thiên Chúa, Đức Mẹ đã đến với thế giới tại linh địa Mễ Du, để van nài chúng ta hãy giúp Mẹ, cùng với Mẹ cứu bản thân chúng ta và cứu thế giới, tái tạo niềm tin trên mặt đất và vãn hồi hòa bình cho thế giới. Nhưng hòa bình ấy sẽ không thể hiện nếu trái tim mỗi người chưa hòa điệu với nhịp đập yêu thương của Thiên Chúa, chưa hòa giải và hiệp nhất với anh chị em mình. Để thực hiện việc đó, Đức Mẹ đưa ra một kế hoạch gồm 5 điểm, và cũng là 5 khí giới lợi hại đối đầu với Satan và các thế lực sự dữ.

Trước hết, Mẹ kêu mời chúng ta hợp tác. Có lần Mẹ nói: “Mỗi người chúng con đều quan trọng… Nếu không có các con (cộng tác), Mẹ không thể thực hiện kế hoạch cứu thế giới này được… Mẹ cần các con !… Hãy giúp Mẹ !” – “Mẹ ở với các con, và bầu cử trước mặt Thiên Chúa cho mỗi người các con vì mỗi người các con rất quan trọng trong chương trình cứu các linh hồn của Mẹ. Mẹ mời gọi các con làm những kẻ mang sự lành và hòa bình vào mọi nơi…” (25-5-1993).

Sau đây là kế hoạch 5 điểm hay 5 khí giới:

1. Khí giới thứ nhất: Cầu nguyện

Cầu nguyện là trọng tâm của Sứ điệp Mễ Du, cho nên được nhắc đến luôn luôn đến hàng ngàn hàng vạn lần trong các cuộc gặp gỡ của Mẹ với các thị nhân, và trong hầu hết các Thông điệp của Mẹ. Đức Mẹ nói: “Cầu nguyện thì các con có tất cả ! (Có sự sống Thiên Chúa, có hòa bình, có hạnh phúc). Không cầu nguyện, các con chẳng có gì hết !”

“Các con hãy cầu nguyện ba giờ mỗi ngày. Các con cầu nguyện quá ít. Tối thiểu các con phải cầu nguyện trong một nửa giờ buổi sáng và một nửa giờ buổi chiều. Các con hãy dâng 5 phút lên Thánh Tâm Chúa Giêsu…” (28-6-83).

Cầu nguyện biểu lộ lòng khao khát, ước vọng sống tốt đẹp hơn. Ăn năn trở lại với Chúa, tuy là một việc của cá nhân làm trong tự do, song chỉ có thể thành đạt nhờ ơn Thiên Chúa. Mẹ nói: “Hôm nay, Mẹ lại đến để kêu gọi các con cầu nguyện. Các con đã biết, Thiên Chúa ban nhiều hồng ân cho chúng ta khi cầu nguyện. Mẹ kêu nài các con hãy cầu nguyện và cầu nguyện bằng trái tim.” (25-4-1987). Bởi đó, phải cầu nguyện và tốt hơn cả là cầu nguyện chung với nhau, trong gia đình, trong nhóm, trong Giáo Hội… Đức Mẹ nhiều lần nhấn mạnh đến việc cầu nguyện chung trong gia đình. Và Đức Mẹ mong chúng ta cầu nguyện bằng tràng chuỗi Mân Côi mỗi ngày. Và cũng bảo cầu nguyện trước tượng Thánh Giá.

Cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, là sự giao tiếp thân mật với Thiên Chúa. Cho nên Đức Mẹ nhấn mạnh: cầu nguyện với cả con tim, với tất cả tấm lòng, mới có giá trị, chứ không phải là đọc những kinh thuộc lòng như cái máy. Cầu nguyện bằng trái tim là tập trung tâm trí vào lời cầu nguyện, như thể mình nói với Thiên Chúa từng lời ấy. Con tim là biểu tượng tình yêu, vậy thì cầu nguyện bằng trái tim là đem hết lòng yêu mến mà cầu nguyện, y như thể khi mình gặp người yêu mình đem hết tấm lòng yêu đương tha thiết, mà trò truyện.

Mẹ còn mong ước: “Chớ gì các con hãy làm cho sự cầu nguyện ngự trị trên toàn thế giới” (25-8-97). “Vì nhờ cầu nguyện các con có thể hoàn toàn tước khí giới của Satan để bảo đảm hạnh phúc của các con” (24-1-85). “Nếu các con cầu nguyện, Satan không thể làm hại các con, dù chỉ một tơ tóc, vì các con là con Thiên Chúa và Người đang trông nom các con.” (25-2-88.

2. Khí giới thứ hai: Ăn chay

Ăn chay ! Nghe lời ấy, ta phát sợ, nhưng đừng quên đây cũng là tin vui. Tại sao ? Vì ăn nhiều quá, bao tử và gan làm việc quá tải, bị mệt, sẽ phát bệnh. Biết bao lần, sau những ngày lễ tết, suốt ngày ăn uống lu bù đủ thứ, ta cảm thấy mệt mỏi, có người lâm bệnh phải uống thuốc. Nhiều người còn nói: “Khốn khổ cho cái bao tử của tôi !”. Vì thế, ăn chay là một tin vui. Nó là điều tốt cho sức khoẻ: nó loại trừ ra ngoài cơ thể những chất độc, nó tiêu thụ những chất dư ứ đọng trong cơ thể làm ta nặng nề, nhức đầu, đau khớp, phong thấp đủ thứ… Những ai ăn chay đều đặn cũng thường nhận thấy nó làm ích cho thân thể và cả tinh thần nữa. Nó có thể kéo dài tuổi thọ.

Nhưng trong việc cứu vớt bản thân chúng ta và thế giới tại sao Đức Mẹ lại bảo phải ăn chay ? Ăn chay có liên hệ gì với việc thiêng liêng đó ?

Ngay lần hiện ra thứ ba (26-6-81) Mẹ Maria đã bảo phải ăn chay. Trong Cựu Ước và Tân Ước, ta đã chứng kiến việc ăn chay, nhất là ta không quên việc Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày trước khi bắt tay vào công việc cứu thế ! Trong bất cứ tôn giáo nào cũng có việc chay tịnh.

Vì ăn chay không phải là một thứ “khoái làm khổ thể xác”. Chức năng thiết yếu của ăn chay là đây : Hãm bớt sự lệ thuộc vào vật chất, hãm bớt thói mê ăn uống, bớt những dục vọng, ví dụ một người say mê chè chén, ngày nào không nhậu nhẹt không thể chịu được, đó chẳng phải là một ách nô lệ sao ? Khi người ta giảm bớt sự lệ thuộc vào vật chất, và vật chất không còn là một nhu cầu thúc bách, thì tâm hồn mới được thảnh thơi để cảm nghiệm được tình yêu siêu nhiên của Chúa và Đức Mẹ. Bởi thế, khi dạ dầy trống rỗng, con người sẽ dễ mở đón Thiên Chúa, sẽ thấy thoải mái, dễ dàng cầu nguyện hơn. Đói phần xác có thể đánh thức cái đói của tâm hồn.

Ăn chay có thể bị coi là khổ chế khó chấp nhận hay bất đắc dĩ phải chấp nhận cho ai chưa ý thức được sự cần thiết và ích lợi cả thân xác lẫn tinh thần của nó. Nó là bệ phóng tốt cho việc cầu nguyện và bình an, cho hòa bình và hòa giải, vì nếu hiểu cho đến cùng, ăn chay chiếu tỏa bình an. Chẳng phải mỗi người chúng ta cũng như toàn thế giới này lâm vào bao tranh dành, tranh chấp và chiến tranh cũng chỉ vì miếng ăn đó sao ?

Ăn chay giúp ta chế ngự được ma quỉ. Chính Chúa Giêsu đã dạy: “Có loại quỉ chỉ khử trừ được nhờ ăn chay và cầu nguyện” (Mc 9.29). Và ngày 16-11-87, Đức Mẹ quả quyết: “Ma quỉ ra sức chiến thắng các con. Đừng cho phép chúng. Hãy giữ vững đức tin, ăn chay và cầu nguyện.”

Ông Đỗ Sinh Tứ có viết: “Bởi vậy, trong việc chữa trị cho thế giới hỗn loạn thời nay – một thời buổi tôn thờ xác thịt – để họ được sống cảnh an bình, thư thái, Đức Mẹ không những khuyên dạy mọi người thành tâm cần phải có đức tin mạnh, mà còn đặt nặng vấn đề ăn chay, cầu nguyện. Thường tình ở đời, không người mẹ nào muốn cho con mình phải nhịn ăn, nhịn uống, nhưng khi bệnh tình của đứa con cần phải kiêng cữ, thì người mẹ càng thương con, càng muốn cứu sống con, sẽ càng canh chừng (và khuyên nhủ con), không để cho con ăn uống trái với lệnh thày thuốc”.

Ăn chay có sức chữa lành bệnh tật. Đức Mẹ có dạy: “Để chữa lành cho bệnh nhân, cần dọc những kinh sau đây: Kinh Tin Kính, và 7 lần Kinh Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, và ăn chay bánh mì với nước lã”.

Mẹ còn nhắn nhủ: Ăn chay là một hi sinh tế lễ, vì thế chay tịnh không chỉ là kiêng ăn mà còn là dâng tiến Chúa điều gì mình ưa thích nhất. Ví dụ: Ai thích hút thuốc hay uống rượu, hãy hi sinh nhịn hút, nhịn uống hôm đó. Ai mê xem truyền hình, cũng vậy, không xem truyền hình. Mẹ than phiền rằng: Các con mất quá nhièu thì giờ cho truyền hình. Nó đã trở thành “bà chủ” điều khiển nhiều người trong các con, và họ đã là những kẻ nô lệ của nó !

Vì tất cả những ích lợi đó, nên Mẹ Maria kêu gọi ta ăn chay mỗi tuần 2 lần: “Hãy ăn chay nghiêm túc vào các ngày thứ tư và thứ sáu.” (14.8-84). “Ăn chay tốt nhất là ăn bánh bì với nước lã.. Nhờ ăn chay và cầu nguyện người ta có thể chận đứng chiến tranh và làm ngưng được những định luật của thiên nhiên. Làm việc bác ái không thay thế cho việc ăn chay. … Hết mọi người phải ăn chay, trừ người bệnh” (21-7-82).

Và Mẹ đòi hỏi chúng ta chấp nhận điều này với một ý chí kiên vững và bền bỉ.

Ngày 6-11-82, Mẹ Maria vui mừng loan báo: Nhờ co nhiều người nghe lời Mẹ ăn chay và cầu nguyện mà hình phạt (được báo trong bí mật) thứ 7 dành cho thế giới đã được giảm nhẹ.

3. Khí giới thứ ba: Đọc Kinh Thánh mỗi ngày

Bình thường Mẹ Maria hiện đến với các thị nhân trong niềm vui tươi, hạnh phúc. Nhưng cũng có những trường hợp Mẹ buồn sầu, thỉnh thoảng Mẹ khóc. Cha Jozo làm chứng: Mẹ đã hiện ra với tôi và khóc khi nói: “Các con đã bỏ quên Kinh Thánh !” Và cha còn nói rằng: là một linh mục, cha từng chứng kiến các bà mẹ thương khóc con mình tại nghĩa trang, nhưng cha chưa thấy bà mẹ nào sầu não như Mẹ Maria, khi đề cập đến việc người ta bỏ quên Kinh Thánh.

Kinh Thánh là một cuốn sách khác hẳn với những cuốn sách khác trên cõi đời này. Nó được viết ra dưới ơn linh hứng của CTThần và chính Thiên Chúa là tác giả. Không có quyển sách nào có thể so sánh với cuốn sách này. Vì thế cha Jozo thuật lại lời Mẹ Maria khuyến cáo: “Hãy tách biệt sách Kinh Thánh ra khỏi các sách khác trên kệ sách, và đặt vào chỗ danh dự và dễ thấy trong nhà… Các con không đọc Kinh Thánh với tình yêu như đó là Lời của một vị Thiên Chúa đang sống động… Chỉ cần hôn kính sách Thánh, người ta cũng lãnh được nhiều ơn rối”.

Ngày 18-10-84, Mẹ nói: “Các con yêu dấu ! Bữa nay Mẹ yêu cầu các con hãy đọc Kinh Thánh trong gia đình mỗi ngày, và nên để nó chỗ nào có thể thấy được để nó nhắc nhở các con đọc và cầu nguyện”. “Mọi gia đình phải cầu nguyện chung với nhau và đọc Lời Chúa” (14-2-85).

Hiếm khi nào, chúng ta thấy Đức Mẹ nói câu “Phải” mạnh mẽ, cương quyết như vậy. Điều này làm ngạc nhiên. Đó là chỉ vì chúng ta thường coi lời của Chúa và Mẹ như lời khuyên sơ qua, làm hay không làm cũng có sao. Chính vì để cho ta thấy tầm quan trọng của việc đọc Kinh Thánh và cầu nguyện chung trong gia đình mà lần này Mẹ Maria nói mạnh như thế.

Chúng ta yếu hèn, không biết cầu nguyện sao cho phải – theo lời Thánh Phaolô – T.Khí đến trợ giúp chúng ta, chuyển cầu cho ta bằng những lời nỉ non khôn tả (x. Rm 8.26). Kinh Thánh chính là lời CTThần viết ra, mớm cho ta có những lời cầu nguyện đúng với ý Thiên Chúa, đẹp lòng Thiên Chúa, và tất nhiên là sẽ được Thiên Chúa nhậm lời.

Chúng ta đang sống trong sự tối tăm mù mịt của thế gian, nhất là thời nay, lan tràn biết bao nhiêu tà thuyết lầm lạc, Kinh Thánh sẽ là kim chỉ nam soi đường dẫn lối. Chúa Giêsu đã phán: “Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm nhưng tìm được ánh sáng đem đến sự sống” (Ga 8.12).

Chính trong bản thân chúng ta cũng đầy những tối tăm lầm lạc, chưa kể chúng ta đưa ra biết bao nhiêu lý do này nọ để tự lừa mình, dối mình, cho phép mình phạm tội, hoặc bào chữa những sự sai trái mình làm v.v… Lời Chúa sẽ đến phân tách tất cả những mớ bòng bong ấy, vì thư Do Thái viết: “Lời Thiên Chúa thì sống động và linh hoạt, sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi, và xuyên thấu giới tuyến giữa tâm hồn và thần khí, gân cốt và tủy não, biện phân tâm tư và ý tưởng của lòng dạ con người… ” (4.12-13).

4. Khí giới thứ tư: Hòa giải bởi việc xưng tội

Trước bao căng thẳng, chiến tranh, bạo lực, hận thù của thế giới…, ngay ngày 26-6, tức là ngày thứ ba của cuộc Hiện Ra, Đức Mẹ đã gióng tiếng: “Hòa bình ! Hòa bình ! Hòa bình! Hãy hòa giải với Thiên Chúa, với nhau !”, và ngay sau đó, Đức Mẹ đã đề cập đến viêc xưng tội: “… Vì thế, cần phải tin, cầu nguyện, ăn chay và đi xưng tội”.

Mẹ Maria có đưa ra một lời xác nhận rất đánh động: “Bất cứ ai, dù đã làm nhiều điều ác xấu xa khi sống, vẫn có thể lên thẳng thiên đàng, nếu họ xưng tội, ăn năn hối hận về những điều đã làm, và rước lễ lúc cuối đời” (24-7-82).

Hòa giải với Thiên Chúa liên kết với hòa giải với anh chị em mình. Gốc rễ của mọi chia rẽ là bởi người ta đã cắt đứt liên hệ với Thiên Chúa. Tội là chia rẽ trong chính bản thân ta, chia rẽ với người khác. Trở về cùng Thiên Chúa là Cha chung, tức khắc, ta sẽ yêu thương mọi người là con cùng một Cha. Thư 1 Gioan dạy: “Nếu Thiên Chúa đã yêu mến ta như thế, thì ta cũng phải yêu mến nhau” (4.11); và: “Phàm ai yêu mến Thiên Chúa, Đấng Sinh Thành, tất yêu mến kẻ bởi Người sinh ra” (5.1).

Loài người thường cưu mang hận thù dai dẳng. Hãy cầu xin Thiên Chúa chữa lành “cái trí nhớ” bệnh hoạn ấy. Lúc đó, ta sẽ thực sự được giải thoát và thư thái, vì có lần Đức Mẹ bảo: “Kẻ cưu mang hận thù, không tha thứ, chính họ làm hại cho mình trước tiên”, vì hận thù là một chất độc, nó đầu độc chính trái tim ta trước. Được giải thoát khỏi hận thù, ta sẽ có thể cầu nguyện cho kẻ làm khốn ta, yêu thương kẻ thù và làm ơn cho họ, như Tin Mừng dạy.

Đấy là kinh nghiệm mà hàng triệu triệu con người đã được nếm trải tại Mễ Du, thánh địa của bình an, tình thương và hạnh phúc. Những khách hành hương đến Mễ Du thường rất cảm động trước số lượng khổng lồ các hối nhau xếp hàng chờ lãnh nhận bí tích hòa giải. Có những đại lễ, giáo xứ Mễ Du đã phải mời 150 chục linh mục đến thay phiên ngồi tòa, ngay cả ngoài trời, để giải tội suốt ngày đêm…

Mễ Du được gọi là tòa giải tội của cả thế giới.

Dân chúng từ khắp bốn phương đến Mễ Du để xưng tội và trở về với Thiên Chúa. 

Nhưng xưng tội không phải như một thói quen. Đức Mẹ đã cắt nghĩa cho cô Jelena, một thụ khải của Mẹ: “Các con đừng đi xưng tội theo thói quen, rồi sau đó vẫn sống như cũ. Điều đó không tốt. Bí tích hòa giải phải mang lại một xung lực cho đức tin của các con, phải khuyến khích và đem các con lại gần Chúa Giêsu hơn. Nếu việc xưng tội chẳng có ý nghĩa gì đối với các con, thì thật tình, các con sẽ khó mà hối cải” (7-11-83).

Thị nhân Vicka nói với khách hành hương: Việc xưng tội phải làm cho hối nhân trở thành con người mới, vì vào tòa hòa giải, người ta không chỉ gặp một con người mà gặp chính Chúa Giêsu. Đức Mẹ không muốn chúng ta nghĩ rằng: Tòa cáo giải là nơi chúng ta đến trút gánh nặng tội lỗi và sau đó trở về nhà chúng ta lại sống tiếp tục con đường cũ.

5. Khí giới thứ năm: Thánh Lễ và bí tích Thánh Thể

Mẹ Maria nói Thánh lễ phải là trung tâm đời sống, đến nỗi có lần Người nói với các thị nhân ở Mễ Du: “Nếu phải chọn giữa việc đi dự lễ và dự cuộc hiện ra của Mẹ, Mẹ bảo hãy chọn Thánh Lễ.”

Vì thế Đức Mẹ đã khóc khi đề cập đến Thánh Thể và Thánh Lễ, chỉ vì con cái Mẹ coi thường bí tích ấy, thiếu sự tôn kính. Hãy xem Đức Mẹ đánh giá cao bí tích cao trọng này chừng nào khi năm 1985, Mẹ nói: “Các con đừng dâng Thánh Lễ như các con vẫn làm. Nếu các con hiểu được các con đón nhận được những ơn phúc và quà tặng nào khi dâng lễ thì các con sẽ dành ít ra là một giờ trong ngày để chuẩn bị cho việc trọng đại này.”

Cũng vì muốn tỏ cho thấy điều ấy mà Mẹ Maria yêu cầu chúng ta cầu khẩn với CTThần trước mỗi Thánh Lễ. Hãy đặt Chúa Giêsu làm trung tâm đời sống.Hãy đặt Thánh Lễ vào vị trí ưu tiên của cuộc đời, và dâng Thánh Lễ phải là giờ phút linh thiêng nhất, siêu thánh nhất hơn mọi giờ khác trong ngày. Và chúng ta chuẩn bị để đón rước Chúa Giêsu với lòng kính trọng và yêu mến vô biên. Với tâm trạng như thế, Đức Mẹ hy vọng chúng ta mới cảm nghiệm được Thiên Chúa, Mẹ nói: “Mẹ kêu gọi các con năng động hơn trong việc cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ. Mẹ hi vọng các con cảm nghiệm được Thiên Chúa trong nội tâm các con khi dự Thánh Lễ.” (16-5-85).

Lúc khác, Mẹ Maria gợi đến lòng hiếu thảo của chúng ta đối với Mẹ, cũng giống như bà mẹ thế gian hỏi đứa con nhỏ: Con có thương mẹ không ?Có ! – Thế thì con làm việc này việc nọ đi cho mẹ xem. Đức Mẹ cư xử với chúng ta như người mẹ thật, Người cũng hỏi xem ta có mến thương Mẹ không, nếu có thì hãy làm việc này: Dự Thánh Lễ ! Mẹ nói: “Dù thời tiết xấu, có nhiều người vẫn tới dự Thánh Lễ vì yêu Mẹ, và ước ao tỏ bày tình yêu của họ với Mẹ. Mẹ mong mỏi các con chứng tỏ lòng gắn bó của các con với Mẹ bằng cách tới dự Thánh Lễ, rồi Chúa sẽ ban muôn phần thưởng cho các con” (21-11-85). Người mẹ thế gian xin con làm việc này việc nọ là để phục vụ cho bà, còn Đức Mẹ xin ta dự Thánh Lễ là để: “… rồi Chúa sẽ ban muôn phần thưởng cho các con”.

Quả thế, biết bao năng lực giúp chống lại chước cám dỗ của ác thần, của xác thịt và những quyến rũ tội lỗi của thế gian hiểm ác, biết bao nhiêu ơn sủng, biết bao hoa trái tốt lành, đạo đức chỉ đến từ Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Từ Thánh Lễ, chúng ta nhận được sức sống của Chúa và trong Ngài, ta nhận được toàn thể mầu nhiệm cứu độ, đúng như Thông điệp “Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể” (của Đ.G.Trưởng Gioan Phaolô II, 17-4-2003, số 11) đã viết: “Bí tích Thánh Thể không chỉ là việc khơi gợi lại biến cố đó (Tử Nạn) nhưng còn làm tái hiện dưới hình bí tích của biến cố ấy. Đó là hy tế thập giá được tiếp tục trong thời gian… Khi Giáo Hội cử hành bí tích Thánh Thể… biến cố trung tâm này của ơn cứu độ thực sự trở nên hiện tại và như vậy “công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện”… Vì thế mọi tín hữu đều có thể tham dự vào và nếm được những hoa quả của sự hy tế ấy một cách vô tận… như thể chúng ta đã có mặt lúc bấy giờ (trên Núi Sọ)”.

Bí tích Thánh Thể giúp ta trở nên con người mới, thông phần cách sung mãn vào sự sống, sự thánh thiện của Thiên Chúa: “ Như Ta sống nhờ Chúa Cha thể nào, thì kẻ ăn Ta cũng nhờ Ta mà được sống như vậy” (Ga 6.57).

Tự sức mình, ta chỉ làm luống công. Hãy nghe lời thú nhận của các Tông đồ: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì !” (Lc 5.5), vì chính Chúa Giêsu đã phán: “Ngoài Thầy, anh em chẳng làm được gì” (Yn 15.5).

 

Lm Phêrô Hoàng Minh Tuấn, DCCT