Chúa Nhật 4 Phục Sinh Năm B

FOURTH SUNDAY OF EASTER – APRIL 26, 2015 CHÚA NHẬT THỨ 4 PHỤC SINH – 26-4-2015
 John 10:11-18
10:11 “I am the good shepherd. The good shepherd lays down his life for the sheep.
10:12 The hired hand, who is not the shepherd and does not own the sheep, sees the wolf coming and leaves the sheep and runs away–and the wolf snatches them and scatters them.
10:13 The hired hand runs away because a hired hand does not care for the sheep.
10:14 I am the good shepherd. I know my own and my own know me,
10:15 just as the Father knows me and I know the Father. And I lay down my life for the sheep.
10:16 I have other sheep that do not belong to this fold. I must bring them also, and they will listen to my voice. So there will be one flock, one shepherd.
10:17 For this reason the Father loves me, because I lay down my life in order to take it up again.
10:18 No one takes it from me, but I lay it down of my own accord. I have power to lay it down, and I have power to take it up again. I have received this command from my Father.”
Gioan  10:11-18

11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

12 Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn,

13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên.

14 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi,

15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

 

16 Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.

17 Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại.

18 Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.”

 

INTERESTING DETAILS:

Jn 10, 11: Jesus presents himself as the Good Shepherd who gives his life for his sheep.
Jn 10, 12-13: Jesus defines the attitude of the mercenary
Jn 10, 14-15: Jesus presents himself as the Good Shepherd who knows his sheep. Two things characterize the Good Shepherd: a) he knows the sheep and is known by them. in the language of Jesus, “to know” is not a question of knowing the name or the face of the person, but to be in relationship with a person as a friend, and with affection. b) to give the life for the sheep. That means to be ready to sacrifice oneself out of love. The sheep feel and perceive when a person defends and protects them
    Jn 10, 16: Jesus defines the goal to be attained: only one flock and one shepherd . We are the ones, imitating in everything the behaviour of Jesus, the Good Shepherd!
Jn 10, 17-18: Jesus and the Father. Jesus opens himself and makes us understand something which is in the deepest part of his heart: his relationship with the Father

CHI TIẾT HAY

Gn 10, 11 Chúa Giêsu trình bày chính Ngài là mục  tử tốt hy sinh tính mạng vì đoàn chiên

Gn 10, 12-13: Chúa xác định thái độ kẻ chăn thuê

Gn 10:14-15: CGS trình bày ngài là Mục tử tốt biết những chiên của minh. Hai đặc tính của Mục Tử tốt: a) biết đoàn chiên và đoàn chiên biết  chủ chiên, theo Chúa Giêsu biết không phải chỉ biết tên và mặt con người, nhưng còn liên hệ với nhau như bạn hữu và yêu thương. b) sẵn sàng hy sinh tính mạn vì tình yêu. Đoàn chiên cảm nhận khi mục tử bảo vệ và che chở họ,

Gn 10, 16: Chúa Giêsu xác nhận mục tiêu phải đạt được: chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Chúng ta là một, khi chúng ta noi theo mọi cách sống của Chúa Giêsu, mục tử tốt.

Gn 10, 17-18: Chúa Giêsu và Chúa Cha. Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta phần sâu xa nhất về liên hệ của Ngài với Chúa Cha.

ONE MAIN POINT: 

We are reminded of two important truths of our faith – that we are the children of God and that Jesus is the Good Shepherd.

Một Điểm chính:

Chúng ta được nhắc nhớ 2 chân lý quan trọng của đức tin: – chúng ta là con cái của Thiên Chúa và Chúa Giêsu là Mục Tử tốt.

REFLECTION

a) What has struck you most in the text of the Good Shepherd? Why?
b) Which are the images which Jesus applies to himself, how does he apply them and what do they signify?
c) How many times does Jesus use the term life in this text and what does he affirm about life?
d) What does the text say about the sheep that we are? Which are the qualities and the tasks of the sheep?

SUY NIỆM:

a) Phần nào trong bản văn Mục tử tốt lành đụng chạm bạn nhất? Tại sao?

b) Những hình ảnh nào Chúa Giêsu dùng chỉ về Ngài, áp dụng những hình ảnh đó thế nào và ý nghĩa của những hình ảnh đó?

c) Bao nhiêu lần Chúa Giêsu dùng từ mạng sống trong bản văn này và Ngài xác nhận điều gì về mạng sống?

d) Bản văn nói gì về chúng ta là những con chiên?

 

NHỮNG TƯ TƯỞNG CẦN SUY NIỆM

Hình ảnh Chúa Kito là Mục tử tốt nhắc nhở chúng ta rằng: mục vụ của Chúa Kitô là phục vụ và nối kết. Chúa Giesu muốn mang toàn thể đàon chiên lại với nhau – tất cả mọi đàn ông đàn bà – giàu và nghèo – trẻ và già – từ mọi quốc gia và mọi nhóm. Chúa Giêsu không muốn thống trị, điều khiển hay khai thác con người nhưng phục vụ họ, gây cảm hứng và đem họ lại với nhau. Đây là tinh thần của Phục Sinh, tinh thần của sự Sống Lại.

Nếu chúng ta làm nhiệm vụ một Kitô thứ hai ngày hôm nay, từ ” Mục tử tốt” này có thể giống điêu gì? Có nhiều mức độ ý nghĩa. Trong ánh sáng nhập thể, chúng ta không thể chỉ tập trung vào sự sống đời đời trong thế giới tương lai khác. Chúa Giêsu quan tâm đến cái gì khuyến khích đạt đến sự sống đời đời từ trong hiện tại. Chúng ta có thể nói rằng Mục Tử tốt quan tâm đến tất cả những vấn đề cổ võ sự sống:

– Thực phẩm, nước, nhà ở, săn sóc sức khỏe, dinh dưỡng – Cộng đồng, lòng thương xót, sự liên đới, – lòng thương xót và sự tha thứ, – Tâm linh, tự do, thần linh, – sự công bằng, công chính, nhân đức, – hòa bình và không bạo lực.

Chúng ta được kêu gọi phải chia sẻ sự quan tâm này. Với “Mục tử tốt”, chúng ta được kêu gọi tham gia vào vấn đề đời sống thực tế và công bình cho toàn thế giới.

Chúa Giesu hy sinh mạng sống cho chúng ta vì Ngài thực sự quan tâm đến chúng ta.

Ngài bảo vệ chúng ta khỏi mọi sự dữ: ma quỷ, tội lỗi và cái chết. Chúa Kitô biết chúng ta và chúng ta biết ngài.

Chúng ta biết Thiên Chúa Cha nhờ Ngài.

Mặc dù có những người thuộc về Ngài đang rải rác khắp thế giới và mọi thời đại, chúng ta thực sự làm thành một Hội Thánh.

Chúa Giêsu có khả năng bảo vệ chúng ta khỏi mọi sự dữ, vì Ngài có quyền hy sinh mạng sống và có quyền lấy lai.

Thoughts for your Consideration

The gospel image of Jesus Christ as the Good Shepherd reminds us that Christ’s ministry is a ministry of service and solidarity. Jesus desires to bring the whole flock together – all men and women – rich and poor – young and old – from all the many nations and groups. Jesus desires not to dominate or control or manipulate people but to serve them, inspire them, and bring them together. This is the spirit of Easter, the spirit of the Resurrection.

If we function as “another Christ” today, what might this “good shepherding” look like? There are of course many levels of meaning. In light of the incarnation, we cannot focus only on eternal life in some other future world. Jesus is concerned with what promotes eternal life in the present. We might say that the Good Shepherd is concerned for all the things that promote life:

·                            Food, water, shelter, health care, nutrition   –  Community, compassion, solidarity

·                            – Mercy and forgiveness – Spirituality, freedom, spirit,  – Justice, righteousness, virtue                    

·                            – Peace and nonviolence

We are called to share this same concern. With the “Good Shepherd,” we are called to be involved in the real issues of life and in justice for the whole world.

Jesus has laid down his life for us because he has true concern for us.

He has done so to defend us against every evil: the devil, sin, and death. Christ knows us and we know him.

We know God the Father through him.

Although those persons who belong to him are found scattered throughout the world and throughout time, we really do form one Church.

Christ was able to defend us from every evil, because he had the power to lay down his life and to take it up again.

ƠN TOÀN XÁ NGÀY KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định các tín hữu có thể được hưởng ơn toàn xá trong ngày Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa vào Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh. Quyết định trên đây được công bố trong sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao đăng trên báo Quan Sát Viên Rôma của Tòa Thánh.Sắc lệnh khẳng định rằng ơn toàn xá được ban với những điều kiện thường lệ là xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha cho những tín hữu nào trong ngày Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh tức là Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa tại bất kỳ nhà thờ nào có lòng quyết tâm từ bỏ mọi quyến luyến tội lỗi kể cả tội nhẹ và tham dự vào các việc đạo đức tôn vinh lòng từ bi Chúa hay ít là đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính cùng với sự kêu cầu Chúa Giêsu từ bi trước sự hiện diện của Mình Thánh Chúa được trưng bày công khai hoặc giữ trong nhà tạm

Tóm Tắt ÂN SỦNG TUYỆT VỜI CHO NHỮNG AI ĐỌC CHUỖI KINH LÒNG THƯƠNG XÓT:

** Khi đang cầu nguyện bằng chuỗi Kính Lòng Thương Xót, tôi (faustina) thấy vị thiên thần trở nên bất lực: không thể thực hiện án phạt Công Thẳng xứng với tội lỗi thế giới. (474)

• Giải hòa với Thiên Chúa và khẩn nài được Lòng CHUA Xót Thương. (714)

• Đem nhân lọại đến gần Cha hơn. (929)

• Nhận được Lòng Thương Xót bao la trong gìơ lâm tử. (687)

• Các linh mục hãy giới thiệu chuỗi kinh ấy cho các tội nhân như niềm trông cậy sau cùng cho ƠN CỨU ĐỘ. (687)

• Một tội nhân dù chai đá , cứng lòng đến mấy, nhưng nếu đọc chuỗi kinh này, dù chỉ một lần duy nhất mà thôi, cũng sẽ nhận được ơn thánh do lòng lân tuất vô cùng của Cha. (687)

• Ân sủng trọng đại biết bao cho những linh hồn đọc chuỗi kinh, Lòng Thương Xót sâu nhiệm của Cha cảm kích vì những người đọc chuỗi kinh này. (848)

• mọi sự đều có thể xin được nhờ chuỗi kinh này. (Faustina cầu được mưa trong 3 tiếng ).

• Hãy cổ động đọc chuỗi kinh… Cha vui lòng ban mọi điều họ nài xin Cha bằng việc lần chuỗi kinh ấy. (1128)

• Khi những tội nhân cứng lòng đọc chuỗi kinh, Cha sẽ đổ đầy bình an cho linh hồn họ, và giò chết của họ sẽ là một giờ hạnh phúc. (1541)

• Đọc chuỗi kinh này bên người hấp hối, Cha sẽ đứng giữa Chúa Cha và người hấp hối ấy, không phải với tư cách Thẩm Phán chí công, nhưng là Đấng Cứu Độ nhân lành. (1541)

• TRỢ GIÚP NGƯỜI HẤP HỐI.

• Faustina chưa kịp đọc xong chuỗi kinh thì benh nhan đã tắt thở trong niềm bình an lạ thường. (810)

• “ Trong gìơ chết của họ, Ta sẽ bao bọc mọi linh hồn đã đọc chuỗi kinh này như vinh quang riêng của Ta. (811)

• Hoặc khi có ai khác đọc chuỗi kinh này để cầu cho người hấp hối, thì ân xá cũng giống như thế. 205

• Khi chuỗi kinh này đuợc đọc bên giường người hấp hối, cơn nghĩa nộ Thiên Chúa sẽ dịu xuống , lượng nhân từ vô biên sẽ bao phủ linh hồn ấy và Lòng Thương Xót sâu thẳm dịu dàng của Ta sẽ động lòng vì cuộc Thương Khó bi thảm của Con Ta.

• Faustina đoc chuỗi kinh.., đặt tượng thánh giá lên ngực người hấp hối và cầu… Anh ta ra đi một cách an lành. (1035)

• Khi bắt đầu đọc chuỗi kinh, tôi (Faustina) nhìn thấy một người đang hấp hối trong cơn vật vã kinh hồn. Thiên Thần bản mệnh …ra sức bảo vệ, nhưng đành bất lực với nỗi khốn nạn dữ dằn của ông ta. Một bầy qủy đông đúc chực sẵn… Nhưng trong lúc đọc kinh tôi nhìn thấy Chúa Giêsu như trong bức hình. Những luồng sáng từ trái tim Người chiếu ra bao phủ lấy người bệnh, và lũ ngụy thần tăm tối hỏang hốt tháo chạy. Người bệnh an lành trút hơi thở cuối cùng. Khi choàng tỉnh, tôi hiểu ra chuỗi kinh quan trọng chừng nào đối với những người hấp hối. Nó làm nguôi cơn nghĩa nộ của Thiên Chúa. (1565)

• Người hấp hối được hoan hưởng an bình và đã nghỉ yên trong Chúa, lòng đầy tin cậy. (1798)

1798 Bỗng tôi (Faustina) thấy mình ở trong túp lều , nơi đó có một người đàn ông cao niên đang hấp

hối giữa cơn vật vã đau đớn. Chung quanh giường là các thân nhân thương khóc. Ngoài ra, còn có một bầy quỉ dữ đen đủi. Khi tôi bắt đầu cầu nguyện, bọn qủy thần tăm tối liền tháo chạy, vừa rít lên giận dữ đe dọa tôi. Người hấp hối được hoan hưởng an bình và đã nghỉ yên trong Chúa, lòng đầy tin cậy.

Chúa Giêsu truyền cho tôi (Faustina) làm:

tuần cửu nhật trước lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa ,

và hôm nay tôi bắt đầu tuần cửu nhật cầu cho thế giới được hoán cải và tôn nhận tình thương của Người …Chúa phán:

“Để mọi linh hồn ca tụng Lòng Nhân Lành của Cha. Cha khao khát lòng tín thác từ các thụ tạo của Cha. Con hãy khuyến khích các linh hồn hãy hết lòng tín thác vào Lòng Thương Xót vô bờ của Cha. Chớ gì linh hồn yếu đuối và tội lỗi đừng sợ đến cùng Cha, vì tội lỗi họ có hằng hà hơn cả số cát trên thế gian đi nữa thì tất cả đều chìm hết trong vực thẳm tình yêu thương xót khôn lường của Cha”

Sưu tầm

Gặp gỡ Đức Kitô phục sinh

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra. Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

  1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Ngươì xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.. Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

  1. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dây niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

  1. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy. Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Đức Kitô là linh hồn của họ. Linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

  1. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bât chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”.

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú me. Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên ngững cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt

Những câu chuyện hay về Lễ Phục Sinh

1.CHÚA BỊ ĐÓNG ĐINH:
Mùa đông Âu Châu thời tiết năm nay khá lạnh, ở miền nam Đức về đêm đôi khi nhiệt độ xuống -20 độ C, những cánh hoa tuyết không tan đọng hai bên đường cao quá đầu gối, các hồ nước bị đóng băng, những cánh đồng rộng mênh mông toàn màu trắng của tuyết, những giàn nho, giàn đường hoa thảo (Hopfen) không lá đứng trơ vơ trong gió lạnh, từng đàn quạ đen bay lượn tìm mồi trong bầu trời mù ảm đạm, rừng thông già rủ lá buồn tênh.

Mọi người đang hướng về mùa xuân bắt đầu vào ngày 20 tháng 3 trời nắng ấm, sáng tinh sương mặt trời chưa ló dạng đã nghe tiếng chim hót véo von trên những cành cây đang trở mình nở nụ. Mùa phục sinh đến kỷ niệm ngày Chúa Jesus Kitô được sống lại (Auferstehung). đồng hồ phải đổi thêm một giờ vì ngày dài đêm ngắn, nước Đức là quốc gia theo Đạo Thiên Chúa Giáo, bắt đầu thứ Tư lễ tro (Aschenmittwoch / Ash Wednesday ngày 09.02.05), trong thánh lễ Linh mục ghi dấu tro lên trán Tín đồ và đọc „Hỡi người, hãy nhớ mình từ tro bụi và sẽ trở về với tro bụi „ghi dấu tro để nói lên sự khiêm nhường và nhắc nhở Tín đồ về sự sống sẽ qua đi.

Bước vào mùa chay (Fastenzeiten) 40 ngày, Tượng Chúa phủ khăn đen, Linh Mục làm lễ mặc áo màu tím. Giáo hội kêu gọi con chiên sống với lòng bác ái, suy niệm, cầu nguyện hãm mình và sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi để được cứu rỗi, Ăn chay  kiêng thịt vào ngày thứ sáu tuần thánh, các loại cá được phép ăn.  Nến thắp sáng từ đêm phục sinh cho đến các ngày lễ Chúa lên trời (Christi Himmelf /Ascension day và  lễ Hiện xuống Pfingstsonntag/ Whit Monday là biểu tượng của sự sống lại

2.NGUỒN GỐC LỄ PHỤC SINH:
Theo phong tục và dân tộc tính ở các nước Trung Âu Châu (Đức, Pháp, Áo, Hòa Lan, Bỉ, Lục Xâm Bảo, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha.. ) sau mùa đông giá lạnh, xuân về có ánh nắng mặt trời ấm áp làm đời sống vui tươi hơn. Mùa phục sinh bắt đầu vào ngày rằm tháng đầu của mùa xuân.

Ngày lễ nầy bắt nguồn từ ngày Chuá Jesus bị đóng đinh trên thánh giá  (Karfreitag / Good Friday) và sống lại (Auferstehung/ resurrection) biểu tượng cho sự sống (Leben/ live) và sự phì nhiêu phong phú (Fruchtbarkeit/ fertility) thời xa xưa người ta gọi lễ hội mùa xuân (Frühlingsfest / spring festival) hay „Ostarum“ người Đức gọi là „Ostara“ và danh từ „Ostern/ Easter“ nguồn gốc từ chữ „Ost/ East“ hướng về phương đông mùa xuân mặt trời sắp lên, người Do Thái gọi ngày lễ nầy là „Paschafest“ Người Ai Cập (Ägypter) gọi là „Osterlamm/ paschal lamb)“ cũng nhằm ngày rằm đầu tiên mùa xuân họ giết cừu ăn mừng được giải phóng khỏi sự đàn áp, thoát khỏi thân phận nô lệ

Hội nghị về Tôn giáo ở Niazäa năm 325 công nhận lễ hội mùa xuân, là ngày lễ phục sinh sau khi Chúa sống lại cho đến năm 1094 Oster Fest vui chơi 4 ngày rồi sau đó 3 ngày, nhưng đến nay chỉ còn lại 2 ngày. Lễ phục sinh năm nay  vào ngày thứ Sáu 25 và  thứ Hai ngày 28 tháng 3. Hằng năm vào ngày thứ Sáu lễ phục sinh Osterfeiertagen Đức Giáo Hoàng làm lễ tại Petersdom ở Roma gọi là „Urbi et orbi“ ở Đức theo phong tục vào Chúa nhật phục sinh (Ostersonntag/ Easter Sunday) cha mẹ hay ông bà thường đưa trẻ con đi tìm trứng „Ostereier suchen“ ở nơi nào đó mà các Hiệp hội tổ chức giấu trứng gà chín tô nhiều màu trong các bụi cây bờ cỏ.. đây cũng là một thú vui đi dạo thưởng thức nắng ấm đầu mùa. Nhiều gia đình dành sự ngạc nhiên cho các cháu nhỏ, cha mẹ thường mua rổ đan bằng mây hay tre lót những sợi giấy màu xanh làm cỏ để trứng và các con thỏ làm bằng chocolate giấu trong vườn hay nhà các cháu đi tìm. Những buổi tiệc vui gia đình Đức thường ăn thịt cừu nướng „Osterlamm“

3. LỬA PHỤC SINH (Osterfeuer/ Easterfire):
Người ở vùng quê sống đời nông nghiệp vui mừng mùa đông giá lạnh đi qua, xuân đến bắt đầu gieo trồng rồi gặt hái, nguồn gốc lửa phục sinh ngày xưa được đốt lên từ những cánh đồng trong đêm đầu tiên phục sinh, từ đó sẽ thắp lên ánh nến phục sinh. Ngọn lửa sưởi ấm mùa đông dài lạnh lẽo vì thời xa xưa không đủ tiện nghi như ngày nay có lò sưởi điện. Người Ai Cập từng tôn thờ thần mặt trời xem ánh lửa như thần thiêng. miền bắc Na Uy không có mặt trời, mặt trời tái xuất hiện vào cuối tháng giêng khoảng 4 phút, học sinh ở Trombo nghỉ học một ngày để chào mừng ánh mặt trời, ngược lại mùa hè đêm 23 tháng 7 thì mặt trời không hề lặn, không có mặt trời thì trên trái đất nầy sẽ không có sự sống, vì thế ánh lửa phục sinh cũng là nguồn sống của con người, lửa phục sinh tượng trưng cho ánh sáng mới mà Chúa đã mang đến cho chúng ta, từ năm 750 ở Pháp đã có phong tục đốt lửa phục sinh, thời sơ khai người ta dùng hai hòn đá đánh cho xẹt ra lửa, rồi từ từ biết dùng khí đốt. Đến thế kỷ thứ 11 ở Đức đã dùng ánh lửa như một sự dâng hiến trong các nghi lễ về tôn giáo.

4. NẾN PHỤC SINH (Osterkerze/ Eastercandle):
Các Tôn giáo đều sử dụng nến (đèn cầy) đốt sáng trên bàn thờ, ánh sáng nến  có thể đem vào nơi tối tăm, năm 384 lần đầu tiên ở Piacenca thánh Hieronymus (347- 419) viết trong thư tông đồ về ý nghiã biểu tượng của nến phục sinh là sự sống .đến năm 417 Giáo Hoàng Zosimus cùng công nhận biểu tượng đó là sự chết và sống lại của Chúa Jesus. Từ thế kỷ thứ 7 thánh điạ La Mã công nhận và sử dụng nến phục sinh cho đến thế kỷ thứ 10 được các quốc gia theo Thiên chúa sử dụng cho đến thế giới ngày nay.

Nến Phục sinh được đốt lên từ đống lửa trước nhà thờ trong đêm phục sinh được thánh hóa theo phong tục lâu đời. Nến đốt sáng được rước vào nhà thờ, tín đồ sẽ thắp nến của mình từ cây nến phục sinh cả nhà thờ được rực sáng bởi ánh nến là dấu hiệu của sự sống, chiến thắng được tội lỗi và sự chết. Mọi người reo mừng “Christus ist das Licht- Gott sei ewig Dank” Ngày phục sinh cây nến có ghi hình thánh giá hay khắc tia ánh sáng mặt trời hay dòng nước.

Trên nến có cắm 5 dấu đinh, phía trên ghi mẫu tự Alpha và bên dưới mẫu tự Omega với ý nghiã đầu tiên và cuối cùng của tiếng Hy Lạp, tượng trưng cho chúa Jesu là khởi đầu và cuối cùng, chung quanh cây nến ghi năm để nói lên, Chúa Jesus là Đấng cứu độ từ khởi đầu, hôm nay và mãi mãi. Trong các lễ rửa tội, hay lễ an táng nến phục sinh được đốt sáng.

5.TRỨNG (Ostereier/ Easter egg):
Từ thế kỷ thứ 12, Thứ bảy phục sinh Ostersamstag người ta nấu trứng gà chín và sơn màu sắc sặc sở với những ý nghiã đẹp : màu đỏ tượng trưng cho may mắn, màu xanh cho hy vọng, trẻ trung vô tội, màu vàng cho sự khôn ngoan, màu trắng cho thanh bạch màu cam cho sức mạnh … bỏ trứng trong giỏ với những thức ăn khác mang đến nhà thờ. Trứng còn biểu tượng cho sự khởi nguyên của sự sống, bởi vậy theo truyền thuyết người chết được tẩm liệm người ta để trong quan tài một cái trứng biểu tượng cho cứu chuộc và sự sống đời sau, trên quan tài người chết thường cúng cơm có trứng gà.  Người ta quan niệm con gà con tự mổ vỏ trứng chui ra, Chúa Jesu bị hành hạ đánh đập qua những đoạn đường dài khổ cực vác thánh giá rồi bị đóng đinh chết an táng trong ngôi mộ đá đã đập vỡ cửa mồ và sống lại.

6. THỎ PHỤC SINH (Osterhase/ Easter bunny):

Các chuyện thần thoại hay trong dân gian đều có chuyện vui giúp đời như con thỏ là con vật hiền lành không làm hại sinh vật nào.Thỏ không có khả năng tấn công hoặc gây nguy hại cho các loài động vật khác, nhưng lại thường xuyên bị những con như sói, báo, chim ưng, cú… uy hiếp. Chính vì vậy, thỏ thường xuyên phải vểnh tai để chú ý xem bốn phía chung quanh có động tĩnh gì không, nhằm đề phòng bất trắc. Trong hoàn cảnh khắp nơi là kẻ địch như vậy, nên đôi tai của thỏ đặc biệt to dài nghe rất thính để chạy trốn khi nghe tìếng động trước sự tấn công.

Nữ thần ái tình Hy Lạp „Liebesgöttin Aphrodite“ cho đến NữThổ Thần Nhật nhĩ Nam „Erdgöttin Holda“ đều yêu chuộng thỏ. Ở Byzanz Tây Ban Nha các nhà biểu tượng học xem biểu tượng con thỏ là một Thiên sứ. Mãi cho đến thế kỷ thứ 16 nhiều điạ phương đã quan niệm các con thú khác như cáo, gà, cò chim cu, hạt, cú đã mang trứng đi giấu ..Thỏ sống cách đây 55 triệu năm bộ xương thỏ vừa được khai quật ở Mông Cổ. Gomphos elkema, tên của con vật, là thành viên cổ nhất trong họ nhà thỏ từng được tìm thấy. Phân tích Gomphos đã cho thấy, thỏ hiện đại, cùng với các loài thú khác, đã xuất hiện sau thời kỳ khủng long. Các nhà  sinh vật  học cho biết thỏ sinh sản nhiều, nhưng chú thỏ phục sinh xuất hiện từ năm 1678 do một giáo sư y khoa Von Georg Franck ở Franckenau dạy đại học Heidelberg công nhận thỏ là biểu tượng của sự sinh nở phong phú, một con thỏ mẹ hàng năm có thể đẻ 20 thỏ con, mùa xuân với cỏ non làm thực phẩm cho các chú thỏ con vừa chào đời, vào tận trong vườn để tìm thức ăn, trứng phục sinh được sơn nhiều màu, người lớn đã cắt nghiã do các chú thỏ mang tới, từ đó có thỏ và trứng. Từ thành phố Zurich Thuỵ Sĩ là nơi phát họa ra chú thỏ và cái trứng trong mùa phục sinh. Sau đó các hãng sản xuất kẹo bánh, không bỏ cơ hội buôn bán từ năm 1875 sản xuất những chú thỏ bằng schololate làm bằng tay, mãi cho đến đầu thế kỷ 20 mới sản xuất bằng máy theo  ky~ nghệ

7.HOA PHỤC SINH:

Người Đức thường dùng cành cây tươi, treo những cái vỏ trứng gà, sơn nhiều màu và những con thỏ nhỏ bằng schocolat cho trẻ em, và các loại hoa thường dùng như Thủy tiên Osterglocken/daffodil; Uất kim cương Tulpen/Tulip; Phong tín tử Hyazinthen/hyacinth; Cúc đồng Gaenebluemchen/ dasiy; Bồ công anh Loewenzahn/ dandetion; Mao cấn Hahnenfuss/ buttercup…

Mùa phục sinh bên quê nhà thì nắng ấm, năm nay nhiều nơi hạn hán không đủ nước cho các vụ mùa, thời tiết mỗi lục địa khác nhau, nhưng những mùa lễ Giáng Sinh, Phục sinh đều giống nhau. Trước 1975 Việt Nam Nam Bắc chia đôi, sinh hoạt đời sống về an sinh bị khó khăn, những ngày lễ cũng giới hạn với giai đọan chiến tranh. Ngày nay Việt Nam thanh bình thường tổ chức các lễ hội như đi Chùa Hương, giổ Tổ Hùng Vương, Trung Thu, Giáng sinh, lễ hoa Đà lạt, lễ tế Nam Giao và nhiều lễ hội khác ở các điạ phương tổ chức linh đình nhằm phục tồn truyền thống văn hoá cổ truyền, ngay cả ngày lễ tinh yêu (Valentinstag) trước đó Việt nam chưa từng thực hiện, nhưng ngày nay các chàng dù nghèo cũng dành tiền mua cho người yêu một đóa hoa hồng, một món quà nhỏ, như người xưa đã nói „phú quý sinh lễ nghiã“.

Hy vọng đời sống phát triển về kinh tế dân trí và dân quyền cũng phát triển theo, để quê hương chúng ta bớt nghèo đói và lạc hậu. Các nước Tây phương vật chất đầy đủ, sau lễ Giáng Sinh Tết, ngày tình yêu… lễ hội hoá trang, tiếp đến lễ Phục sinh các siêu thị lớn, nhỏ đều bày bán những con thỏ bằng Chocolat, trứng sơn đủ màu và những thiệp Chúc Mừng Phục Sinh. Frohe Ostern / Happy Easter.
Chúa sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 3- 4) để an ủi và đem hy vọng cho những ai buồn sầu vì số phận sẽ phải chết hay đau khổ, khi có người thân yêu vừa mất. Theo luật tạo hoá con người phải chết. Nhưng nhân loại hy vọng được sống lại như Chúa sau khi phải trải qua cái chết của thân xác..

Tài liệu tham khảo:

Ostergeschichte- Quelle Johannes  Ver 20  & 21

Nach den Evangelisten Johannes / Universal Lexion Faktum

8. LƯỢC DỊCH LỊCH SỬ NGÀY CHÚA SỐNG LẠI:

Lễ Lá Palmsonntag Chúa nhật Chúa Jesus vào thành Jersusalem để làm vua thiên hạ, thời gian chưa đầy một tuần lễ, Chúa đã làm lễ rửa chân cho các môn đệ và thành lập Hội Thánh đầu tiên ở trần gian, dọn mình trở về với Chúa Cha như lời Thánh kinh.

Biến cố, các đạo trưởng, Caipha và Hội đồng Do Thái muốn giết Chúa trước ngày lễ Vượt Qua, nhưng thời ấy người Do Thái bị La Mã rút quyền lên án tử hình..  người Do Thái đã mua chuộc Juda môn đệ phản Thầy bắt Chúa Jesus, vào tối thứ năm và sáng thứ sáu các trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão đem chúa đến xử ở dinh quan Pontius Pilatus (Philato) hôm đó là ngày áp lễ Vượt Qua… Nhưng quan tổng trấn La Mã Pilatus yếu hèn không ngãn ngừa ðýợc vụ án, ðể ngýời Do Thái ðã đánh đập, hành hạ Chúa trước khi đóng đinh… Dấu tích xưa được ghi lại ở ngoại ô thành Jerusalem có núi sọ người Do Thái gọi là Golgotha, Đồi nầy làm nơi ném đá những người bị xử phạt, Người La Mã cũng chọn nơi nầy đóng đinh các tội phạm.. Golgotha cũng là chặng đường cuối cùng khổ giá, trên đường đến núi sọ có Mẹ Maria cùng các môn đệ yêu quý, bà thiếu phụ Veronica dâng  khăn mới lau mặt Chúa, (chiếc khăn đó in rõ thánh nhan Ngài, khăn đó còn lưu lại trong bảo tàng viện ở Roma ?) Chúa vác thánh giá tới đỉnh đồi, trời đã đúng ngọ, Chúa bị đóng đinh với bản án „Jesus vua Do Thái „..Mẹ Maria buồn rầu đau khổ chứng kiến cảnh đánh đập và đóng đinh, trái tim mẹ đau nhói khi nhìn những giọt máu trên thánh giá rơi xuống…

Lời nói cuối cùng của Chúa „Lạy cha, Con phó linh hồn con trong tay Cha“  Rồi ngài trút hơi thở lúc trời đã về chiều..Theo luật La Mã xác của tội phạm không được chôn cất để ở pháp trường cho thú dữ chim ăn. Ông Giuse đã xin án táng hình hài Chúa Jesus trước ngày lễ Vượt Qua theo phong tục người Do Thái cấm để xác chết trên thập giá.. Nên được chấp nhận trước khi hạ thánh giá, những người lính canh pháp trường lấy dáo dâm vào xác cho tới tim Chúa. Ông Juse mẹ Maria và các môn đệ đã mai táng Chúa trong một hang đá, ngoài có tảng đá lớn lấp và gắn kín khi sau khi mai táng, quân linh chính quyền  canh giữ 3 ngày…

Ba ngày đã qua, sáng sớm còn đọng những giọt sương mai lóng lánh dưới ánh mặt trời mùa xuân bừng dậy, bà Magdala người được Chúa cứu khỏi bệnh tâm thần, đi thăm mộ Chúa để biểu lộ lòng nhớ ơn và phát hiện tảng đá lấp mộ Chúa đã   không còn nguyên như cũ, bà nghĩ ai đó đem xác Chúa đi. Bà tìm gặp Petrus và Gioan và mong muốn các ông sớm tìm ra ai lấy xác Chúa để đâu. Maria von Magdala chưa hiểu đàng sau tảng đá được lăn ra kia ẩn chứa một mầu nhiệm sự sống lại. Vì thế, bà cùng với hai môn đệ vội vã chạy đi kiếm tìm…

Ông Gioan chạy đến mộ trước bởi sức trai trẻ, môn đệ Chúa thấy những gì Maria von Magdala báo tin, ông còn phát hiện thêm những hiện tượng bất thường, những băng vải còn đó chưa hẳn xác thầy đã bị đánh cắp. Sau đó không lâu, Petrus phát hiện các băng vải, khăn che đầu được xếp lại gọn gàng. Những hiện tượng này là những lý chứng có thể trả lời cho những nghi ngờ của Maria, nếu có âm mưu trộm xác, kẻ trộm sẽ lợi dụng thời khắc lính canh thiếp ngủ- rất ngắn ngủi, thì không thể nào thoải mái sắp xếp các băng vải liệm cách gọn gàng như thế được, những bằng chứng về sự Phục sinh của Chúa, nhưng nó lại là những dấu chỉ chứa đựng sự nhiệm mầu.

Petrus nhìn thấy tất cả nhưng không bình luận. Petrus cẩn trọng và dè dặt trước hiện tượng nầy phải có thái độ cẩn trọng trong mọi hoạt động; nhưng mặt khác, dựa vào kinh thánh, chúng ta biết lý do Petrus không bình phẩm là vì ông chưa hiểu “theo Kinh thánh, Đức Jesus phải chỗi dậy từ cõi chết”. Gioan đi vào mộ. Ông thấy và tin. Thông qua ngôi mộ trống và những vị trí gọn gàng của các băng vải liệm, Gioan đã đọc ra dấu chỉ về những thực tại siêu nhiên bằng con mắt đức tin. Đức tin và sự cảm nghiệm này một phần xuất phát từ trong cách quan sát và phân tích vấn đề, Gioan đã thâu gom những hiện tượng hữu hình, ông lượng định vấn đề để rồi đưa đến kết luận- dù không nói ra, một cách khoa học. Niềm tin đó dựa trên sự soi sáng của lý trí và tình yêu, xác của Thầy chả có ai lấy đi cả. Cái chết đã thất bại. Nó đã bị ánh sáng Phục sinh tướt đoạt. Niềm tin ban sơ này của ông sẽ dần dần được chính Đấng Phục sinh và Chúa Thánh Thần củng cố và hoàn thiện.

Bà Magdala khóc trong mồ, qua nước mắt bà thấy hai người ngồi trên phiến đá chỗ để xác Chúa , bà chưa biết đó là hai Thiên Thần và họ đã hỏi bà:

“Tại sao bà khóc ?“

Bà thưa „vì người ta đã lấy mất xác của Thầy tôi, và không biết họ để đâu?“ nói xong bà  nhìn lại phiá sau thấy Chúa đứng, nhưng bà không biết, Chúa hỏi bà : „ tại sao khóc và tìm ai ? „

Bà Magdala tưởng đó là người coi vườn của ông Giuse nên thưa „ thưa ông nếu ông đã cất xác của Ngài cho tôi biết để tôi chôn cất Chúa Jesus đã gọi tên bà thân mật :“ Maria Magdala „ nghe giọng quen thuộc lập tức nhận ra Chúa và bà toan giơ tay ôm chân Chúa nhưng Chúa đã phán:

-Đừng đụng đến Ta, vì Ta chưa lên cùng Cha Ta , con hãy về bảo các anh em  Ta thay Ta, Ta sẽ lên cùng Cha Ta và Cha cùng các con, cùng Chúa Ta và Chúa các con. Ruehre mich nicht an! Denn ich bin noch nicht aufgefahren zum vater. Gehe aber hin zu meinen Bruedern und sage ihnen ich fahre auf zu meinem Vater und zu eurem Vater, zu meinem Gott und zu eurem Gott.

Nói xong Chúa biến mất  bà Magdala  vui mừng chạy về báo tin cho các môn đệ biết Chúa đã phục sinh, nhưng họ không tin và cho là bà nói sảng, ngoại trừ  Petrus và Gioan đã tin……..

Mừng lễ Chúa Phục sinh để nhắc nhớ chúng ta thêm niềm tin. Thánh Phaolô đã nói nếu Chúa không phục sinh, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả niềm tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15, 14)

Theo tài liệu các đạo trưởng người Do Thái muốn giết Chúa. Tổng trấn Philato thất vọng truyền lấy nước rửa tay và nói “ta sạch tội về máu người đạo đức này” Nhưng người Do Thái đã minh định rằng. “Chẳng việc gì Quan cứ yên tâm, Sau nầy máu nó có đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi chúng tôi cam chịu…”

Suy niệm lời thánh kinh, nhìn lại lịch sử người Do Thái đã mất nước lang thang xứ người, 60 năm qua hơn 6 triệu người Do Thái vô tội bị Hitler ra lệnh tàn sát!! Và ngày nay chiến tranh và khủng bố, máu con cháu  Do Thái vẫn còn tiếp tục đổ .

Martino Duc

5 Phút cho Lời Chúa Tháng 04-2015

Mục Lục

Ngày 1 – 04: Trang 1

Ngày 05 – 11: Trang 2

Ngày 12 – 18: Trang 3

Ngày 19 – 25: Trang 4

Ngày 26 – 30: Trang 5

* * *

01/04/15                                         THỨ TƯ TUẦN THÁNH

                                                                           Mt 26,14-25

CÒN TỒI TỆ HƠN SỰ CHẾT…

Người đáp: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy.” (Mt 26,23)

Suy niệm: Đối với nhiều người, điều còn tồi tệ hơn cả cái chết là sự phản bội. Họ có thể hình dung ra cái chết, nhưng không thể hình dung nổi sự phản bội, nhất là sự bội phản của người thân yêu. Đức Giê-su thì khác, Ngài biết rõ sự phản bội của Giu-đa dù ông đã khôn khéo che dấu hành vi tội ác của mình. Ông có thể qua mặt các bạn đồng môn, nhưng không qua được mắt Thầy mình. Thầy của ông có thể dùng nhiều biện pháp để loại trừ ông, hoặc đích thân trừng trị, hoặc báo tin cho các môn đệ khác và chắc chắn họ sẽ không để ông yên thân. Thế nhưng, thứ “vũ khí” duy nhất mà Ngài dành cho ông là lời mời gọi của tình thương, tiếng gọi của tình nghĩa thầy trò.

Mời Bạn: Năm này qua năm khác, bạn có thể che dấu tội lỗi mình với người chung quanh, ngay cả với những người thân trong gia đình hay cộng đoàn. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng bạn không thể nào che dấu trước mặt Thiên Chúa. Ngài biết rõ mọi tội lỗi kín đáo của bạn và đang âm thầm mời gọi bạn hoán cải, nhất là trong Tuần Thánh này.

Sống Lời Chúa: Trong Tuần Thánh năm nay tôi sẽ nhìn thẳng vào một tội lỗi kín đáo lâu nay của mình, xác tín Chúa biết, đang mời tôi chừa bỏ tội ấy. Tôi sẽ cố gắng đáp lại lời mời gọi này.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa đau đớn trước sự bội phản của ông Giu-đa, nhưng không từ bỏ ông, trái lại luôn dùng tình yêu thương để mời gọi ông trở lại. Chúng con cảm phục sự khoan dung, nhân hậu của Chúa. Xin cho chúng con thật sự hoán cải, từ bỏ một tội lỗi đang kéo ghì mình xuống, để được thật sự sống lại với Chúa. Amen.

02/04/15                                      THỨ NĂM TUẦN THÁNH

                                                                            Ga 13,1-15

YÊU ĐẾN CÙNG

Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. (Ga 13,1)

Suy niệm: “Yêu đến cùng”, một mặt muốn diễn tả sự chung thủy của tình yêu – yêu cho đến chết; mặt khác, “yêu đến cùng” còn muốn nói lên tính vượt trội, nghĩa là vượt trên tất cả những gì con người có thể tưởng tượng được để bày tỏ tình yêu. Đức Ki-tô đã yêu thương những kẻ thuộc về Ngài bằng một tình yêu như thế. Để biểu lộ tình yêu cao độ này: Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ; Ngài lập Bí tích Thánh Thể để trao ban chính Thịt và Máu của Ngài; và Ngài lập Bí tích Truyền Chức Thánh để tiếp tục công cuộc trao ban cho đến cùng. Khi trao ban những gì cao quí nhất cho những kẻ thuộc về mình, Đức Ki-tô muốn biến họ thành một cầu nối để tình yêu của Ngài được lan tỏa cho đến cùng, Ngài mời gọi họ: “Anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”.

Mời Bạn: Làm như Thầy đã làm không chỉ lập lại các nghi thức mà phải yêu như Ngài đã yêu, là dám hiến thân phục vụ tha nhân để diễn tả một tình yêu cho đến cùng.

Sống Lời Chúa: Siêng năng tham dự Thánh lễ và kết hiệp với Chúa Ki-tô trong Bí tích Thánh Thể để thực sự được nuôi dưỡng bởi tình yêu của Ngài và có thể yêu thương như Ngài đã yêu.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Ki-tô, chúng con đang sống trong năm Phúc Âm Hóa cộng đoàn, Mẹ Hội Thánh muốn chúng con quay về với tình yêu của Chúa để trước hết được thánh hóa, hầu có thể yêu tha nhân như Chúa đã hiến thân mình để yêu thương chúng con.

03/04/15                                       THỨ SÁU TUẦN THÁNH

                                                                       Ga 18,1-19,42

MỌI TỘI NHÂN DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ

“Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.” (Ga 19,36)

Suy niệm: Một chi tiết quan trọng mà chỉ mình Gio-an để ý: đó là quân lính không đánh giập ống chân Chúa Giê-su vì Chúa đã chết, nhưng lại đâm ngọn giáo vào cạnh sườn Ngài, bấy giờ máu và nước chảy ra. Như vậy, sự chết của Chúa trên cây thánh giá phát sinh sự sống. Nước là sự sống, nơi nào có nước, nơi ấy có sự sống. Nước cũng là biểu tượng của bí tích thanh tẩy (rửa tội), bí tích đem lại sự sống mới cho ta. Máu là biểu tượng của sự sống, mất máu là mất sự sống, truyền máu là thông truyền sự sống. Máu của Đức Giê-su còn quý giá hơn nữa, vì đem lại sự sống trường sinh: “Ai uống máu này thì có sự sống đời đời” (Ga 6,54). Nước từ thánh giá rửa sạch tội ta, máu Chúa đổ ra trên thánh giá để cứu chuộc ta.

Mời Bạn: Máu và nước từ thân xác Đức Giê-su trên cây thánh giá đem lại sự sống cho bạn. Bạn không chỉ được mời gọi nhìn lên cây thánh giá ấy với lòng tin tưởng, nhưng còn được mời gọi vác thánh giá cuộc đời mình. Nhiều Ki-tô hữu chỉ thích thánh giá cài trên khuy áo, đeo trên ngực, chứ không thích vác thánh giá trên vai. Còn bạn thì sao?

Sống Lời Chúa: Tôi cảm nhận sâu sắc lòng yêu thương của Chúa khi chịu treo trên thánh giá. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, tôi vẫn kiên trung loan báo tình thương của Chúa Giê-su chịu đóng đinh cho những người lân cận.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xin cho con không làm phiền lòng Chúa nữa, để khi hôn thánh giá Chúa, con có thể yêu mến Chúa hết lòng, quyết tâm từ nay sống cho Chúa và vì Chúa. Xin cho con mở miệng nói được khi hôn thánh giá: “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu Chúa.”

04/04/15                                       THỨ BẢY TUẦN THÁNH

                                                                              Mc 16,1-8

CHÚA ĐÃ PHỤC SINH

Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa.(Mc 16,6)

Suy niệm: Để cảm nghiệm mầu nhiệm Phục Sinh, chúng hãy dừng lại thật lâu bên mộ Chúa để cùng với ba người phụ nữ trong Tin Mừng sau một đêm thấp thỏm không ngủ được, ngay khi trời vừa tảng sáng, đã vội vã chạy ra mộ, với dầu thơm để ướp xác Thầy. Nhưng khi đến nơi, các bà không thấy một cái xác để ướp dầu thơm, mà các bà đã gặp chính Đức Giê-su, Đấng Phục Sinh. Quả thế, Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi. Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết. Sự chết không còn làm gì được Ngài. Từ đây, sự phục sinh của Đức Giêsu đã trở nên nguồn mạch sự sống và là sự sống lại của mỗi người chúng ta.

Mời Bạn: Thánh Phao-lô xác tín: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em (1Cr 15,17). Đã có bao nhiêu lễ Phục Sinh qua đi, nhưng thử hỏi, điều đó có giúp ích gì cho cuộc sống của bạn hôm nay? Mừng lễ Chúa Kitô Phục sinh, mời bạn hãy “giết chết” những gì là tính mê nết xấu trong con người cũ; đó là lòng ghen ghét, đố kỵ… để sống lại trong Chúa Ki-tô là con người mới của tình yêu thương, bao dung và tha thứ. Chỉ có như vậy, việc bạn mừng lễ Phục Sinh mới thực sự có ý nghĩa và mang lại cho bạn niềm hy vọng được Phục Sinh với Chúa mai ngày.

Sống Lời Chúa: Sống hiền lành và bác ái là dấu chỉ tôi đã sống lại trong con người mới với Chúa Ki-tô phục sinh.

Cầu nguyện: Lạy Đấng là Nguồn Mạch Sự Sống, xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con sống tràn ngập yêu thương, bao dung và tha thứ. Amen.